Bộ giao thông vận tải

Cục quản lý xây dựng và chất lượng CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG

Transport engineering construction and quality management bureau

Hạ tầng giao thông có thể bứt phá trong 5-10 năm tới
Chủ nhật, ngày 02/09/2018



Là lĩnh vực đi trước mở đường nên ngành GTVT không những phải nhanh chóng bắt kịp mà phải đi đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể và lãnh đạo TP Hải Phòng đi kiểm tra dự án cảng Lạch Huyện tháng 7/2018 - Ảnh: Phan Trang


Trao đổi với Báo Giao thông nhân kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống ngành GTVT (28/8/1945 - 28/8/2018), Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho rằng, giao thông phải luôn đi trước, muốn phục vụ người dân tốt nhất, không gì khác, phải đột phá đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại để kết nối giao thương, phát triển kinh tế đất nước.

Cơ cấu lại nguồn lực đầu tư

Bộ trưởng đánh giá thế nào về tính kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông hiện nay? Điều gì khiến Bộ trưởng còn trăn trở để tăng tính kết nối, tạo đà phát triển kinh tế - xã hội?

Thời gian qua, hệ thống hạ tầng giao thông đã được đầu tư phát triển, kết cấu hạ tầng giao thông đã có những chuyển biến rõ nét, nhiều công trình lớn, hiện đại được đưa vào khai thác bước đầu phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, do nguồn vốn đầu tư còn khó khăn, hạn hẹp, nên hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt là lĩnh vực đường sắt, đường thủy nội địa (ĐTNĐ) có quy mô nhỏ. Còn thiếu cảng nước sâu và đường bộ cao tốc đạt tiêu chuẩn...

Về khả năng kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông còn rất hạn chế, yếu kém, đặc biệt là vấn đề kết nối giữa hai lĩnh vực đường sắt và ĐTNĐ, cảng biển để chia sẻ áp lực vận tải hành khách, hàng hóa lên hệ thống đường bộ.

"Qua Báo Giao thông, tôi xin gửi tới cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư một thông điệp mạnh mẽ rằng, trong mọi việc, Bộ GTVT sẽ đứng từ góc độ của người dân, doanh nghiệp để xử lý cho thấu đáo theo đúng phương châm của Thủ tướng Chính phủ: Kiến tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân."

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể

Đối với hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt, trên hành lang Hải Phòng, Quảng Ninh - Hà Nội - Lào Cai, điểm nghẽn nằm ở khu vực cảng biển Hải Phòng khi đường sắt chưa được kết nối đến khu vực Đình Vũ là khu bến chính hiện nay và Quảng Ninh do chưa đầu tư đồng bộ tuyến Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân. Hiện, đường sắt chỉ kết nối vào các bến cảng Vật Cách, Hoàng Diệu vốn không phải là các bến tiếp nhận container chính nhưng lại đang có chủ trương di dời nên khai thác thiếu sự ổn định. Đường sắt kết nối vào khu bến Lạch Huyện chưa có phương án xây dựng cụ thể. Tuyến đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu kết nối khu bến cảng Cái Mép - Thị Vải với vùng hậu phương đến nay cũng chưa có nguồn vốn để triển khai.

Hệ thống kết cấu hạ tầng ĐTNĐ hiện chưa thể tổ chức vận tải container về khu vực Hà Nội do chưa có cảng đầu mối tại khu vực này và do bị cản trở về tĩnh không cầu Đuống. Kết nối ĐTNĐ với cảng biển cũng gặp khó khăn khi các bến cảng khu vực Đình Vũ thiếu khả năng tiếp nhận cùng lúc phương tiện tàu biển và phương tiện thuỷ nội địa vào làm hàng.

Với hệ thống kết cấu hạ tầng hàng hải, trên hành lang Cần Thơ - TPHCM - Vũng Tàu, tiêu biểu là cảng cửa ngõ quốc tế Cái Mép - Thị Vải, dù được đầu tư hạ tầng hiện đại đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế nhưng trong thời gian qua chưa khai thác hiệu quả vì liên quan rất nhiều đến giao thông kết nối. Cảng này cũng chưa có trung tâm logistics, các trung tâm sang tải để phục vụ vận tải, thúc đẩy các dịch vụ hậu cảng. 

Liên quan đến kết cấu hạ tầng đường bộ, thời gian qua đã được quan tâm đầu tư phát triển, nhưng vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển lưu lượng vận tải. Tình trạng tắc nghẽn phương tiện và hàng hóa trên các tuyến đường bộ đến cảng Cát Lái, khu vực cụm ICD Trường Thọ (Thủ Đức, TP HCM) vẫn diễn ra nghiêm trọng; vận tải đường bộ đến cảng Cái Mép - Thị Vải còn nhiều hạn chế về năng lực tuyến kết nối.

Còn kết nối hạ tầng giao thông đường bộ ở các cửa khẩu quốc tế chính với các nước láng giềng và kết nối ĐTNĐ giữa Việt Nam với Campuchia nhìn chung tương đối tốt. Đối với hệ thống đường sắt, vấn đề kết nối còn gặp khó khăn do thiếu vốn để xây dựng các đoạn tuyến còn thiếu thuộc đường sắt Singapore - Côn Minh trên lãnh thổ Việt Nam, Lào và Campuchia. Đồng thời, sự khác biệt về khổ đường sắt giữa Việt Nam và Trung Quốc đang là cản trở không nhỏ đối với kết nối đường sắt giữa hai nước, đặc biệt là trên tuyến Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai kết nối với tuyến Côn Minh - Hà Khẩu của Trung Quốc.

Để đảm bảo sự kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tạo mối liên kết phát triển vận tải hành khách, hàng hóa bền vững, hiệu quả và góp phần đưa Việt Nam trở thành một đầu mối logistics của khu vực. Trong đó, trước tiên phải khẩn trương rà soát, đánh giá thực trạng hạ tầng giao thông của từng lĩnh vực; điều chỉnh, sửa đổi những nội dung không còn phù hợp để đảm bảo quy hoạch phải mang tính đồng bộ, tránh manh mún, chồng chéo hoặc chia cắt trong các lĩnh vực, các ngành. Trong bối cảnh nguồn lực có hạn, chúng ta cũng cần phải cân đối lại tỷ lệ và phương thức đầu tư cho các lĩnh vực của giao thông như: Đường bộ, đường sắt, hàng hải, ĐTNĐ, hàng không để tạo sự phát triển cân đối; phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng của từng loại hình vận tải để san sẻ gánh nặng cho đường bộ.

Trước mắt, nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành GTVT để tạo đột phá là khẩn trương xây dựng và hoàn chỉnh tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam; đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị và triển khai xây dựng CHK quốc tế Long Thành; rà soát đánh giá toàn bộ hiện trạng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, quy hoạch, trong đó chú trọng hệ thống đường sắt quốc gia, sớm báo cáo Chính phủ, Quốc hội cho chủ trương triển khai Dự án xây dựng đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam; sử dụng hiệu quả vốn từ ngân sách, Trái phiếu Chính phủ trung hạn đã bố trí; phát huy vận tải thủy nội địa, đẩy mạnh phát triển logistics trong GTVT, phát triển ngành Đường sắt một cách cân đối để giảm tải đường bộ, ưu tiên kết nối các vùng phục vụ vận chuyển hàng hoá và hành khách; đẩy nhanh tiến độ xây dựng để sớm để hoàn thành các công trình giao thông trọng điểm…

Tôi cho rằng, nếu thực hiện tốt được các nhiệm vụ nêu trên sẽ giúp ngành GTVT tạo ra những tiền đề quan trọng để thực sự có những bước bứt phá trong 5 - 10 năm tới.

Cầu Bạch Đằng nối liền cao tốc Hà Nội - Hải Phòng tới cao tốc Hải Phòng - Hạ Long sẽ được thông xe từ 1/9/2018 - Ảnh: Đỗ Phương

Bộ GTVT có chương trình hành động tham gia cách mạng 4.0

GTVT là lĩnh vực luôn đòi hỏi đi tiên phong trong việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại. Hiện nay, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 (4.0) đang diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi ngành GTVT phải nỗ lực hơn để không tụt hậu. Ngành GTVT sẽ làm gì để “đi trước mở đường” trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thưa Bộ trưởng?

Chúng ta đang sống trong thời đại biến đổi công nghệ cơ bản chưa từng xảy ra trước kia với những đột phá về trí tuệ nhân tạo, robot cao cấp, Internet kết nối vạn vật, công nghệ lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn, công nghệ nano, công nghệ sinh học, công nghệ tự lái, công nghệ in 3D, năng lượng tái tạo…

Là lĩnh vực đi trước mở đường nên ngành GTVT không những phải nhanh chóng bắt kịp mà phải đi đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trên thực tế, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm biến đổi sâu sắc nhận thức, cấu trúc, vận hành của ngành. Theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới, dự báo đến năm 2025 sẽ có 21 điểm “bùng nổ”, trong đó có thể kể đến các thay đổi mạnh mẽ liên quan đến ngành GTVT như khả năng có thể xảy ra hơn 84% là chiếc ô tô đầu tiên được sản xuất hoàn toàn bằng công nghệ in 3D; 79% khả năng sẽ có 10% tổng lượng xe hơi lưu thông trên toàn cầu là xe không người lái, 67% các chuyến đi du lịch/công tác trên toàn cầu thực hiện thông qua việc chia sẻ phương tiện nhiều hơn (mô hình Uber, Grab…) so với dùng xe riêng; Công nghệ vật liệu mới tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong xây dựng và kiến trúc: Bê tông tự khôi phục, vật liệu nano, pin năng lượng mặt trời, vật liệu xanh…

"Với cách mạng công nghiệp 4.0, ngành GTVT sẽ được hưởng lợi trực tiếp nhờ vào việc áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ. Mọi tuyến đường, cây cầu, công trình giao thông đều có thể giám sát, theo dõi trực quan, trực tuyến, minh bạch từ khâu thiết kế, tiến độ thi công cho đến khi vận hành, bảo trì sẽ không còn là một thực tế quá xa vời với ngành GTVT. Cơ sở dữ liệu lớn sẽ giúp cho công tác quản lý nhà nước, doanh nghiệp đưa ra những quyết định đúng đắn nhất về thứ tự ưu tiên đầu tư, nguồn vốn dự kiến, công nghệ nào phù hợp nhất... Như vậy, đương nhiên vốn đầu tư sẽ hiệu quả, tiết giảm hơn, chất lượng công trình được kiểm soát tốt hơn. "

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể

Để chủ động bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Bộ GTVT đã đề ra chương trình hành động tham gia cuộc cách mạng này, trong đó tập trung vào 3 lĩnh vực cụ thể:

Một là, tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin. Hiện nay, Internet có vai trò rất quan trọng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hệ thống kết nối Internet phải ổn định và băng thông đủ rộng. Một khi nhà sản xuất bắt đầu truyền đi lượng lớn dữ liệu quan trọng trên toàn bộ chuỗi cung ứng, thì vẫn phải đảm bảo các hoạt động khác trên mạng Internet. Do vậy, ngành GTVT cần phân cấp chất lượng dịch vụ để đảm bảo dữ liệu sản xuất không bị gián đoạn. Bên cạnh đó, việc xây dựng trung tâm thông tin chuyên nghiệp để quản trị mạng bao gồm nhiều ứng dụng dịch vụ khác nhau, quản lý dữ liệu và quản lý an ninh mạng là rất cần thiết.

Hai là, tăng cường đào tạo và xây dựng đội ngũ nhân lực của ngành, trong đó sẽ xây dựng và triển khai kế hoạch cụ thể để đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo, quản lý (đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý hành chính Nhà nước) theo từng cấp độ quản lý: Xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cụ thể cho từng loại cán bộ, công chức và chuyên gia chính sách cho từng thời kỳ. Đồng thời, gửi cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kinh nghiệm ở nước ngoài. Thời gian tới, Bộ GTVT sẽ khuyến khích, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật nâng cao trình độ ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, tin học và các kỹ năng quản lý, thực hành khác để tiếp cận, hội nhập với khu vực và quốc tế. Chúng ta cũng sẽ phải hợp tác mạnh mẽ giữa khoa học công nghệ và sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh đổi mới công nghệ, hỗ trợ ứng dụng công nghệ mới trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 vào các lĩnh vực hoạt động của ngành GTVT.

Ba là, đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể như sau: Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu riêng cho từng lĩnh vực quản lý và cơ sở dữ liệu chung cho toàn ngành GTVT nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước; khuyến khích các nhiệm vụ khoa học công nghệ thiết kế, chế tạo máy móc, trang thiết bị của ngành GTVT tận dụng công nghệ in 3D và kết nối liên thông đối với các sản phẩm quan trọng; bắt đúng nhịp và đi đúng hướng theo sự phát triển của khoa học công nghệ, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong tổ chức quản lý, phương thức hỗ trợ trong liên kết sản xuất, thiết lập quy trình kỹ thuật, sản xuất tự động hóa; vận dụng công nghệ chế tạo, vật liệu nhẹ, bền, thân thiện môi trường một cách hiệu quả nhằm giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu, chi phí sản xuất vận hành, sai sót, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường...

Hiện nay, hầu hết các lĩnh vực lớn của ngành GTVT đều xây dựng hệ thống dữ liệu riêng biệt, nhưng việc kết nối rất hạn chế. Tới đây, việc kết nối  thành một hệ thống chung sẽ được thực hiện thế nào để quản lý hiệu quả hơn, thưa Bộ trưởng?

Thời gian qua, Bộ GTVT đã sớm triển khai, đưa vào hoạt động hệ thống thu thập dữ liệu của ngành, với nhiều ứng dụng khác nhau như: Quản lý điều hành bay, điều hành tàu biển ra vào cảng; hệ thống giám sát hành trình lắp trên xe ô tô; hệ thống kiểm soát tải trọng xe; hệ thống quản lý giấy phép lái xe; hệ thống giám sát thu phí; hệ thống quản lý cầu... Từ năm 2012, Ngân hàng Thế giới (WB) đã hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý tài sản đường bộ Việt Nam (VRAMP); cơ sở dữ liệu và phần mềm quản lý cầu Việt Nam; hệ thống kiểm soát tải trọng xe; Trung tâm xử lý, khai thác và sử dụng dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô kinh doanh vận tải. Thông qua dữ liệu từ hệ thống giám sát hành trình cùng nền bản đồ số giao thông kiểm soát hành trình, tốc độ ô tô theo từng cung đường, hành trình cụ thể được quản lý, khai thác và kiểm soát một cách thông minh và hiệu quả…

Tuy nhiên, các hệ thống dữ liệu này lại chưa được kết nối với nhau, thậm chí đang có tình trạng “mạnh ai nấy làm”, chồng chéo, lãng phí.

Tôi có thể lấy ví dụ dễ nhận thấy nhất là việc kết nối dữ liệu ATGT hiện hoàn toàn không có. Mỗi bộ, ngành như: Công an, Y tế, GTVT, Bảo hiểm lại có những cơ sở dữ liệu riêng nhưng lại thiếu sự kết nối liên thông để hình thành một cơ sở dữ liệu chung. Ngành Công an có dữ liệu về xử lý vi phạm, TNGT. Đường bộ lại có dữ liệu cá nhân về GPLX... Tuy nhiên, toàn bộ cơ sở dữ liệu quý của các cơ quan này lại không thể liên thông, khiến việc tra cứu, đối soát, tham chiếu trong từng trường hợp gặp rất nhiều khó khăn và mất thời gian. Điều này dẫn đến tình trạng người vi phạm giao thông bị CSGT thu bằng tìm cách làm bằng mới một cách dễ dàng. Nếu liên thông dữ liệu, cơ quan chức năng hoàn toàn có thể biết để ngừng cấp mới GPLX.

Nhìn rộng hơn, nếu có một cơ sở dữ liệu chung, đảm bảo sự kết nối, khi tra cứu thông tin một chủ phương tiện, chúng ta hoàn toàn có thể biết người lái xe này có an toàn hay không, có vi phạm hay không…

Nói vậy để thấy, việc tập hợp lại các nguồn dữ liệu của các ngành, lĩnh vực cả trong và ngoài ngành GTVT, từ đó hình thành nguồn dữ liệu lớn (Big Data) sẽ giúp cả cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định tối ưu nhất.

Chính vì vậy, tôi cho rằng, việc nhanh chóng và cấp thiết có sự kết nối các nguồn dữ liệu và chuẩn hóa các hệ thống thông tin đơn lẻ để khai thác có hiệu quả các nguồn dữ liệu, tránh lãng phí đầu tư, phục vụ phát triển giao thông nói chung và KTXH của đất nước nói riêng là hết sức cần thiết.

Thông điệp mạnh mẽ vì người dân, doanh nghiệp

Bộ GTVT đã rà soát và có phương án cắt giảm mạnh mẽ, tới hơn 380 điều kiện, chiếm gần 70% điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực GTVT. Sau khi cắt giảm sẽ tác động như thế nào đến người dân, doanh nghiệp, thưa Bộ trưởng?

Cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh là một trong những vấn đề được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đặc biệt quan tâm. Thủ tướng đã có riêng một chỉ thị yêu cầu quán triệt việc cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành, cắt giảm điều kiện kinh doanh là một trong những giải pháp quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng, giải phóng nguồn lực xã hội.

Từ tháng 4/2018, Bộ GTVT đã công bố phương án cắt giảm, đơn giản hoá tới 384 điều kiện trên tổng số 570 điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực GTVT, tương đương 67,36%. Các quy định nào bất hợp lý, gây cản trở hoạt động kinh doanh, gia tăng chi phí và thời gian cho doanh nghiệp phải lập tức bãi bỏ.

Cụ thể, các quy định về quy hoạch, các quy định can thiệp sâu vào nhân sự (phải có phòng pháp chế, phải có các bộ phận chuyên trách, phải có giám đốc được đào tạo theo chuyên ngành…) sẽ được bãi bỏ; một số ngành đã bỏ quy định về vốn tối thiểu; chuyển các điều kiện chỉ có thể phát sinh trong quá trình hoạt động sang điều tiết trong quá trình quản lý để giảm chi phí đầu tư ban đầu cho doanh nghiệp như: Phải có bãi đỗ xe, phải đảm bảo phòng cháy, chữa cháy, có hệ thống ISO…

Các nội dung điều kiện kinh doanh đang tạo rào cản bất hợp lý đối với đầu tư, gia nhập thị trường sẽ được bãi bỏ hoàn toàn. Cụ thể, DN có thể thuê người quản lý (không bắt buộc giám đốc phải có kinh nghiệm hoặc bằng cấp trong lĩnh vực quản lý); giảm chi phí gia nhập thị trường thông qua việc cho phép DN lựa chọn hình thức ký quỹ, bảo lãnh tín dụng hoặc mua bảo hiểm (kinh doanh vận tải biển quốc tế), bỏ các quy định về quy mô (để cho phép DN tự chủ trong việc phát triển quy mô của DN tùy theo năng lực và kỹ năng quản lý của mình).

Một số quy định về thời hạn giấy phép đã được sửa đổi theo hướng không quy định thời hạn hiệu lực của giấy phép (trước đây thường các giấy phép có hiệu lực từ 3-7 năm), chỉ khi không duy trì được điều kiện mới bị thu hồi giấy phép. Đợt cắt giảm, đơn giản hóa này sẽ loại bỏ các điều kiện chung chung không rõ ràng như “thuận tiện”, “điều kiện cơ sở vật chất phù hợp”, có “sức khỏe, đạo đức tốt”… nhằm cắt bỏ sự nhũng nhiễu, tùy tiện trong việc cấp giấy phép…

Rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC), điều kiện kinh doanh là việc phải làm thường xuyên, liên tục. Giảm rồi, phải tiếp tục nghiên cứu, rà soát để giảm nữa, mục tiêu là tạo thuận lợi tối đa cho người dân, DN. Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh sẽ phải được xem xét ngay khi các văn bản quy phạm pháp luật đang được xây dựng chứ không phải khi đã ban hành rồi mới xem xét cắt giảm.

Trên thực tế, với kết quả cắt giảm, đơn giản hóa nêu trên, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực GTVT cũng như các nhà đầu tư đang quan tâm sẽ được tiếp cận với các điều kiện kinh doanh thông thoáng hơn, giảm thiểu các chi phí hành chính không cần thiết, qua đó nâng dần sức cạnh tranh của cả nền kinh tế. Trong thời gian tới, Bộ GTVT sẽ tiếp tục gỡ bỏ các rào cản bất hợp lý đối với đầu tư với cam kết cao nhất là tạo không gian cho doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo.

Hiện nay, Bộ GTVT đã thực thi các phương án cắt giảm này thông qua việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các Nghị định về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực GTVT và đã trình Chính phủ ký ban hành.

Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

Theo Báo Giao thông

Tin liên quan